Phát triển công dân số từ những mô hình sinh kế vùng cao

1 giờ trước |   Lượt xem: 39 |   In bài viết | 

Người dân vùng cao từng bước ứng dụng công nghệ số trong quảng bá nông sản, kết nối thị trường và phát triển sinh kế, qua đó góp phần hình thành công dân số ở cơ sở. (Ảnh minh họa)

Khi đặc sản vùng cao được giới thiệu trên môi trường số

Tuần lễ trải nghiệm thu hoạch lê Nậm Pung tại xã Mường Hum, tỉnh Lào Cai vừa diễn ra vào cuối tháng 6/2026 có thêm một hoạt động đáng chú ý: “Phiên chợ số - Lê Nậm Pung, đậm vị hương rừng Tây Bắc”. Bên cạnh trải nghiệm tại vườn và giới thiệu sản phẩm địa phương, người dân, đoàn viên thanh niên và hội viên phụ nữ tham gia các phiên phát trực tiếp để đưa hình ảnh quả lê, vùng trồng và câu chuyện sản xuất đến với khách hàng qua mạng.

Trong số những người làm quen với cách bán hàng mới có chị Lý Gi Su, người dân tộc Hà Nhì ở thôn Kin Chu Phìn 2. Theo Báo Phụ nữ Việt Nam, gia đình chị có vườn lê Nậm Pung. Sau khi được hướng dẫn cách giới thiệu nguồn gốc, đặc điểm sản phẩm và tiếp nhận đặt hàng, chị đã từng bước tự thực hiện các phiên livestream và ghi nhận những đơn hàng đầu tiên. Những đơn hàng đầu tiên cho thấy khả năng ứng dụng công nghệ số để người sản xuất trực tiếp giới thiệu sản phẩm, tiếp cận khách hàng và mở rộng kênh tiêu thụ nông sản.

Phụ nữ dân tộc thiểu số xã Mường Hum, tỉnh Lào Cai tại phiên livestream bán hàng (Ảnh: phunuvietnam.vn)

Điểm đáng chú ý của cách làm ở Mường Hum là sự kết hợp giữa nông sản đặc trưng với không gian văn hóa bản địa, hoạt động trải nghiệm và phương thức quảng bá trực tuyến. Khách hàng không chỉ nhìn thấy một sản phẩm, mà còn có cơ hội tìm hiểu vùng trồng, cách thu hoạch và con người làm ra sản phẩm. Đây là những yếu tố có thể hỗ trợ xây dựng niềm tin và nhận diện cho đặc sản vùng cao khi tiếp cận thị trường rộng hơn.

Gắn sinh kế số với lợi thế của từng bản làng

Từ câu chuyện lê Nậm Pung có thể thấy, chuyển đổi số trong phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số không nhất thiết bắt đầu từ những mô hình phức tạp. Với hộ sản xuất, đó có thể là hình ảnh sản phẩm được giới thiệu rõ ràng, thông tin nguồn gốc được cung cấp đầy đủ, kênh tiếp nhận đơn hàng thuận tiện và khả năng liên hệ với khách hàng ngoài phạm vi chợ truyền thống.

Tuy nhiên, bán hàng qua mạng chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng chất lượng sản phẩm, thông tin minh bạch, đóng gói, vận chuyển và khả năng đáp ứng đơn hàng. Đối với nông sản tươi, đặc biệt là sản phẩm có mùa vụ, việc tổ chức thu hoạch, bảo quản và kết nối đơn vị tiêu thụ cần được tính toán đồng bộ. Qua đó, các kênh bán hàng trực tuyến mới có thể bổ trợ bền vững cho phương thức phân phối này, thay vì chỉ tạo hiệu ứng trong một vài phiên quảng bá.

Đây cũng là một trong những hướng nhiệm vụ được xác định tại Quyết định số 404/QĐ-BDTTG ngày 30/6/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo về Kế hoạch xây dựng mô hình và thí điểm tổ chức thực hiện hệ sinh thái “Kết nối không gian số - Phát triển buôn làng thông minh” trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2030. Trong đó, nội dung phát triển sinh kế số hướng tới hỗ trợ sản phẩm OCOP, nông sản, dược liệu, hàng thủ công tham gia môi trường số; xây dựng gian hàng, quảng bá trực tuyến, truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường.

Theo kế hoạch, việc hỗ trợ khoảng 500 sản phẩm đặc trưng tham gia môi trường số và khoảng 100 hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ sản xuất kinh doanh tham gia thương mại điện tử là các chỉ tiêu dự kiến cho giai đoạn triển khai sắp tới. Cách tiếp cận này đặt trọng tâm vào khả năng tạo ra sản phẩm, đầu ra và giá trị sử dụng cụ thể cho cộng đồng.

Để người dân thực sự tham gia chuỗi giá trị số

Thực tế ở Mường Hum cho thấy vai trò của phụ nữ, thanh niên và các lực lượng hỗ trợ tại địa phương trong việc kết nối sản phẩm bản làng với người tiêu dùng. Khi người dân hiểu sản phẩm của mình, biết giới thiệu trung thực và được hỗ trợ về kỹ thuật, thương mại, vận chuyển, việc ứng dụng công nghệ có thể trở thành một phần của hoạt động sản xuất kinh doanh hằng ngày.

Các chị em dân tộc thiểu số xã Mường Hum, tỉnh Lào Cai tại vườn lê Nậm Pung (Ảnh: phunuvietnam.vn)

Việc nhân rộng cách làm cần linh hoạt dựa trên lợi thế của từng địa bàn và nhu cầu của từng nhóm sản xuất, tránh áp dụng một mô hình giống nhau cho mọi thôn, bản. Bên cạnh các phiên bán hàng trực tuyến, sự phối hợp giữa chính quyền, hợp tác xã, doanh nghiệp và các nền tảng phân phối có ý nghĩa rất quan trọng trong chuẩn hóa thông tin sản phẩm, bảo đảm chất lượng và duy trì kết nối thị trường.

Từ câu chuyện quảng bá lê Nậm Pung tại Mường Hum đến định hướng phát triển sinh kế số trong Kế hoạch của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, có thể thấy việc phát triển công dân số cần gắn với những nhu cầu thiết thực của người dân. Khi đồng bào biết khai thác công nghệ để giới thiệu sản phẩm, kết nối thị trường và chủ động tham gia các hoạt động kinh tế trên môi trường số, chuyển đổi số không chỉ mở rộng cơ hội phát triển sinh kế mà còn góp phần hình thành những công dân số năng động, thích ứng với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Xuân Thường