Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc hợp nhất 04 Chương trình mục tiêu quốc gia đoạn 2026-2035
1 giờ trước | Lượt xem: 42 In bài viết |Theo đó, Chương trình được hình thành trên cơ sở hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia đã được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư, gồm: Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035; Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035; Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026 - 2035.
Việc hợp nhất được thực hiện theo nguyên tắc không làm thay đổi, thu hẹp mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng, quyền lợi và mức độ ưu tiên đã được Quốc hội quyết định tại 4 chương trình trước đó; đồng thời không làm gián đoạn các nhiệm vụ đang triển khai.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, ngoài các chính sách đặc thù, Nghị quyết yêu cầu bảo đảm nguyên tắc ưu tiên xuyên suốt trong các nhóm nhiệm vụ về hạ tầng, sinh kế, giáo dục, y tế, văn hóa và chuyển đổi số. Kết quả thực hiện tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phải được theo dõi, báo cáo riêng để phục vụ công tác giám sát.
Chương trình hướng tới xây dựng nông thôn mới hiện đại, giàu đẹp, bản sắc, bền vững, gắn với đô thị hóa và thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, bảo đảm bình đẳng giới và an sinh xã hội.
Phát triển kinh tế nông thôn được định hướng phát triển theo hướng xanh, tuần hoàn, sinh thái, gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp, qua đó nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống và thu hẹp chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền và nhóm dân cư.
Cùng với phát triển kinh tế, Chương trình chú trọng giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc thiểu số; nâng cao niềm tin của đồng bào đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội, nhất là tại các vùng chiến lược, biên giới và hải đảo.
Những mục tiêu cụ thể đến năm 2030 và năm 2035
Đến năm 2030, Chương trình phấn đấu tăng thu nhập bình quân của người dân nông thôn gấp từ 2,5 đến 3 lần so với năm 2020; thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng một nửa mức bình quân chung của cả nước.
Tỷ lệ nghèo đa chiều của cả nước được duy trì mức giảm từ 1% đến 1,5% mỗi năm; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giảm xuống dưới 10%. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phấn đấu cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn.
Cả nước phấn đấu có khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó khoảng 10% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại; có 5 tỉnh, thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
Đến năm 2035, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn phấn đấu tăng ít nhất 1,6 lần so với năm 2030; thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số tiếp tục đạt bằng một nửa mức bình quân chung của cả nước.
Chương trình đặt mục tiêu giảm ít nhất 50% số xã, thôn khó khăn trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; phấn đấu có 5 tỉnh, thành phố thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không còn xã, thôn khó khăn.
Cả nước phấn đấu có khoảng 85% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó khoảng 30% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại; có ít nhất 10 tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, trong đó 5 tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới hiện đại.
Trong lĩnh vực văn hóa, đến năm 2035, Chương trình phấn đấu 100% địa phương đưa nội dung giáo dục đạo đức, lối sống, hệ giá trị gia đình thời kỳ mới vào hương ước, quy ước của dòng họ, cộng đồng, làng, xã và hỗ trợ thực hiện hiệu quả; hoàn thành việc tu bổ, tôn tạo 100% di tích quốc gia đặc biệt và ít nhất 80% di tích quốc gia; các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 8% GDP cả nước.
Đối với giáo dục và đào tạo, mục tiêu đặt ra là 100% cơ sở giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông đạt chuẩn về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học tối thiểu; từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Hệ thống giáo dục đại học được phát triển theo hướng hiện đại, ngang tầm khu vực về đào tạo chất lượng cao, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển, Chương trình phấn đấu duy trì 100% người dân được lập sổ sức khỏe điện tử và quản lý sức khỏe theo vòng đời; 100% trạm y tế xã, phường, đặc khu triển khai dự phòng, quản lý, điều trị một số bệnh không lây nhiễm theo hướng dẫn của Bộ Y tế; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 13%.
Ưu tiên cao nhất nguồn lực cho địa bàn đặc biệt khó khăn
Tổng nguồn lực thực hiện Chương trình trong giai đoạn 2026 - 2030 là 808.558 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách Trung ương là 345.000 tỷ đồng, gồm 244.200 tỷ đồng vốn đầu tư công và 100.800 tỷ đồng kinh phí thường xuyên; ngân sách địa phương là 395.392 tỷ đồng.
Ngân sách nhà nước cấp thực hiện tín dụng chính sách là 23.000 tỷ đồng; nguồn đối ứng của các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng là 20.429 tỷ đồng; nguồn huy động hợp pháp khác là 24.737 tỷ đồng.
Nghị quyết yêu cầu việc phân bổ ngân sách nhà nước phải bảo đảm đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, không manh mún, dàn trải; ưu tiên ở mức cao nhất cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới, hải đảo. Chương trình đồng thời có cơ chế hỗ trợ, phân kỳ hỗ trợ đối với các đối tượng mới thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn hoặc mới thoát nghèo.
Tiêu chí phân bổ ngân sách Trung ương phải kết hợp giữa tiêu chí chung và tiêu chí đặc thù của từng lĩnh vực, gắn với mục tiêu, đối tượng thụ hưởng và mức độ thiếu hụt dịch vụ cơ bản của từng địa bàn; bảo toàn phạm vi các chính sách của 4 chương trình trước khi hợp nhất.
Các địa phương được chủ động lựa chọn danh mục, thứ tự ưu tiên, phân bổ và điều chỉnh nguồn lực trong khuôn khổ Chương trình. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện không được làm thay đổi điều kiện thụ hưởng, giảm mức độ ưu tiên hoặc loại bỏ chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân.
Đối với các nhiệm vụ chuyển tiếp, kế hoạch, dự toán, dự án, hợp đồng và danh sách đối tượng thụ hưởng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong năm 2026 tiếp tục được thực hiện theo cơ chế của các chương trình trước khi hợp nhất cho đến khi hoàn thành. Việc lập, phân bổ và giao kế hoạch, dự toán năm 2027 cũng phải bảo đảm các mục tiêu, nhiệm vụ được triển khai liên tục, không bị gián đoạn.
Nghị quyết giao Chính phủ quy định cụ thể nội dung, nguồn lực, cơ chế, chính sách quản lý và tổ chức thực hiện Chương trình; tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo đồng bộ các hệ thống thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu chung phục vụ quản lý, theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện Chương trình.
Tại kỳ họp Quốc hội đầu năm 2030, Chính phủ sẽ báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 và đề xuất nguồn lực cần huy động cho giai đoạn 2031 - 2035.

