Chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số
10:26 AM 08/07/2026 | Lượt xem: 739 In bài viết |Theo đó, Nghị định tập trung vào 03 nhóm cơ chế, chính sách chính, gồm: chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số và văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một; chính sách bảo tồn và phát huy không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống gắn với phát triển du lịch; chính sách phát huy vai trò chủ thể văn hóa tạo sinh kế bền vững.
Lấy cộng đồng các dân tộc thiểu số là chủ thể, trung tâm
Nghị định xác định nguyên tắc thực hiện là bảo đảm tôn trọng tính xác thực, toàn vẹn và đặc trưng văn hóa truyền thống; không làm sai lệch giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số và phương thức thực hành cơ bản của cộng đồng trong các hoạt động phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống.
Đồng thời, việc thực hiện chính sách phải lấy cộng đồng các dân tộc thiểu số là chủ thể, trung tâm của hoạt động bảo tồn và phát triển; phát huy vai trò của chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận và khuyến khích sự tham gia của các chủ thể văn hóa tiềm năng, bảo đảm sự tham gia thực chất và thụ hưởng của cộng đồng dân tộc thiểu số trong quá trình bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống.
Nghị định cũng nhấn mạnh yêu cầu hoạt động bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống phải gắn với việc tạo sinh kế, phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương; công khai, minh bạch, hiệu quả trong quản lý, sử dụng nguồn lực và tổ chức thực hiện.
Phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một
Nghị định quy định việc thống kê, đánh giá và phê duyệt danh mục văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một. Văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một được hiểu là giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số bị suy giảm, thất truyền hoặc biến mất do không còn hoặc còn rất ít người hiểu biết, nắm giữ và thực hành, trao truyền được đánh giá theo tiêu chí chuyên môn.
(Hình vẽ minh họa có sử dụng AI)
Các tiêu chí xác định văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một gồm: cộng đồng có dưới 20 cá nhân sinh sống trong cộng đồng am hiểu, nắm giữ, thực hành và trao truyền văn hóa truyền thống; có dưới 05 chủ thể văn hóa kế cận thường xuyên tham gia thực hành và tiếp nhận trao truyền văn hóa truyền thống; hoạt động thực hành, trao truyền văn hóa truyền thống đã bị gián đoạn từ 03 năm đến dưới 05 năm liên tục; không gian, địa điểm thực hành văn hóa truyền thống bị thu hẹp, biến đổi làm ảnh hưởng đến việc duy trì hoạt động thực hành và trao truyền văn hóa truyền thống.
Đối với nhóm nội dung này, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức rà soát, thống kê, đánh giá thực trạng và lập hồ sơ đề nghị phê duyệt danh mục văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một.
Bảo tồn không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống
Nghị định quy định việc thống kê, đánh giá và phê duyệt danh mục không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống cần bảo tồn. Không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống được xác định là không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống gắn với không gian văn hóa, cảnh quan, kiến trúc truyền thống, phong tục, tập quán và các giá trị văn hóa được cộng đồng thực hành, trao truyền.
(Hình vẽ minh họa có sử dụng AI)
Các tiêu chí xác định không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống cần bảo tồn gồm: hình thức biểu hiện của không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống bị biến đổi; dưới 70% nghề thủ công truyền thống được duy trì hoạt động trong cộng đồng; tri thức dân gian được thực hành hoặc trao truyền không thường xuyên, liên tục trong cộng đồng; lễ hội truyền thống không được tổ chức thường xuyên, liên tục trong thời gian dưới 03 năm; trên 30% đến dưới 50% hộ gia đình sinh sống trong cộng đồng đang duy trì thực hành theo phong tục, tập quán truyền thống.
Việc bảo tồn không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống được gắn với phát triển du lịch cộng đồng, xây dựng không gian văn hóa truyền thống, phát triển sản phẩm văn hóa truyền thống và ứng dụng công nghệ trong bảo tồn, phát triển văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số.
Phát huy vai trò chủ thể văn hóa
Nghị định quy định về tiêu chí, điều kiện phê duyệt danh sách chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận và phát triển chủ thể văn hóa tiềm năng. Chủ thể văn hóa là cộng đồng, cá nhân người dân tộc thiểu số sinh sống ổn định tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đang nắm giữ, thực hành, trao truyền, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống.
Nghị định xác định các nhóm chủ thể văn hóa được quan tâm gồm chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận và chủ thể văn hóa tiềm năng. Trong đó, chủ thể văn hóa nòng cốt là người có năng lực, uy tín, kinh nghiệm, hiểu biết sâu về văn hóa truyền thống, trực tiếp thực hành và trao truyền trong cộng đồng. Chủ thể văn hóa kế cận là thế hệ tiếp nối, có năng khiếu, sở thích, nguyện vọng, tự nguyện học tập, thực hành và tiếp nhận trao truyền văn hóa truyền thống. Chủ thể văn hóa tiềm năng là học sinh, sinh viên, thanh niên người dân tộc thiểu số sinh sống ổn định tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Việc xác định, phê duyệt danh sách chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận được thực hiện trên cơ sở các tiêu chí, điều kiện cụ thể. Đối với chủ thể văn hóa nòng cốt, Nghị định quy định các tiêu chí như có thời gian tham gia hoạt động thực hành và trao truyền văn hóa truyền thống từ 05 năm trở lên; là chủ thể văn hóa trực tiếp thực hành, trao truyền văn hóa truyền thống; có ý thức, trách nhiệm tham gia hoạt động phục hồi, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Đối với chủ thể văn hóa kế cận, Nghị định quy định phải có khả năng tiếp thu, thực hành và truyền đạt một phần những nội dung đã được trao truyền, tiếp nhận từ cộng đồng hoặc từ chủ thể văn hóa nòng cốt; có tinh thần tự nguyện, ý thức trách nhiệm và cam kết tiếp tục tham gia hoạt động thực hành, trao truyền văn hóa truyền thống.
Nghị định cũng quy định việc phát triển chủ thể văn hóa tiềm năng và xây dựng không gian trải nghiệm văn hóa truyền thống trong cơ sở giáo dục. Nội dung này hướng tới học sinh, sinh viên, thanh niên người dân tộc thiểu số; đồng thời gắn với việc xây dựng mô hình không gian trải nghiệm và giáo dục văn hóa truyền thống trong cơ sở giáo dục, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Bên cạnh việc xác định chủ thể, Nghị định quy định chính sách hỗ trợ để các chủ thể văn hóa tham gia hoạt động phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. Các chính sách này tập trung vào việc tạo điều kiện để chủ thể văn hóa tham gia thực hành, trao truyền, truyền dạy, trình diễn, giới thiệu giá trị văn hóa; qua đó góp phần duy trì hoạt động văn hóa truyền thống trong cộng đồng, khuyến khích sự tiếp nối giữa các thế hệ và phát huy vai trò trung tâm của cộng đồng trong bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số.
Quy định rõ nguồn lực và trách nhiệm thực hiện
Nghị định quy định nguồn lực thực hiện gồm ngân sách nhà nước và nguồn lực xã hội. Ngân sách nhà nước hỗ trợ thực hiện các nội dung như tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực; tổ chức hoạt động thực hành, trao truyền và phát huy vai trò của chủ thể văn hóa; sản xuất sản phẩm văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng và tạo sinh kế bền vững; hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại đối với sản phẩm từ nghề truyền thống của các dân tộc thiểu số.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng, tổ chức triển khai các chương trình, đề án, dự án, kế hoạch phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch; chủ trì, phối hợp rà soát, tổng hợp nhu cầu, đề xuất các nhiệm vụ, nội dung lồng ghép vào Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lồng ghép các chính sách phục hồi, bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Về trách nhiệm quản lý nhà nước, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quy định mức hỗ trợ đối với phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số do tổ, nhóm cộng đồng thực hiện theo quy định của Nghị định; quy định mức hỗ trợ đối với chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận tham gia hoạt động phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Nghị định trên địa bàn; bảo đảm kinh phí thực hiện theo phân cấp nhiệm vụ và khả năng cân đối ngân sách địa phương; huy động, lồng ghép nguồn lực; phê duyệt hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt chương trình, đề án, dự án, kế hoạch phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống; chỉ đạo rà soát, thống kê thực trạng; tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị định.
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức rà soát, thống kê thực trạng văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trên địa bàn; hướng dẫn tổ, nhóm cộng đồng xây dựng, hoàn thiện hồ sơ đề xuất dự án, tổ chức thực hiện hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định.
Nghị định số 269/2026/NĐ-CP là căn cứ quan trọng để các bộ, ngành, địa phương triển khai các cơ chế, chính sách phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng, tạo sinh kế bền vững và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng trong đời sống văn hóa.
Hương Huyền



